Apr 6, 2012

PHỤC SINH 2012 - KHOA HỌC VÀ NIỀM TIN - Albert Einstein

KHOA HỌC và NIỀM TIN
( Copy từ Vicky Chan ) 





"Tôi sẽ giải thích vấn đề giữa khoa học và tôn giáo"

Vị giáo sư triết học ngừng lại, gọi một học sinh đứng lên và hỏi:

"Cậu là một Cơ Đốc Nhân phải không?"

"Vâng, thưa Giáo sư". Cậu bé trả lời

"Vậy cậu tin vào Đức Chúa Trời?"

"Đúng vậy"

"Chúa tốt không?"

"Chắc chắn, Chúa là tốt lành"

"Chúa toàn năng phải không? Chúa có thể làm bất cứ chuyện gì?"

"Vâng"

"Vậy cậu là người tốt hay xấu xa?"

"Kinh Thánh chép rằng tôi là xấu"

Người giáo sư cười ngạo: "Aha! Kinh Thánh?!". Vị giáo sư suy nghĩ trong chốc lát. "Thí dụ có một người bị bệnh ở đây và cậu có thể chữa cho hắn. Cậu có khả năng làm điều đó. Cậu sẽ giúp hắn chứ?"

"Vâng, thưa Ngài"

"Như vậy thì cậu là người tốt!"

"Tôi không nghĩ như vậy"

"Tại sao không? Cậu sẽ giúp một người thương tật nếu cậu có thể. Hầu hết ai cũng vậy. Nhưng Chúa thì không."

Cậu bé không trả lời, và Giáo sư tiếp tục. "Vậy Chúa có tốt không? Anh trai tôi là Cơ Đốc Nhân và đã chết vì ung thư, dù anh đã cầu nguyện với Jesus để được chữa lành. Vậy Jesus này tốt ở chỗ nào? Cậu có thể trả lời không? "

Cậu bé vẫn im lặng. "Cậu không thể trả lời được phải không?", Vị giáo sư hỏi, rồi nhấp ngụm nước từ chiếc cốc trên bàn để cho lớp học chút thời gian thư giãn. "Trở lại nào anh bạn trẻ, Đức Chúa Trời có tốt không?"

"Uhm.. Vâng", cậu học sinh trả lời

"Satan có tốt không?"

Không do dự, cậu bé trả lời: "Không!".

"Thế Satan từ đâu đến?"

Cậu bé ngập ngừng, "Từ Đức Chúa Trời"

"Phải rồi, Chúa tạo ra Satan, đúng không? Nói đi con trai, có tội lỗi trên thế gian này không?"

"Có, thưa Giáo sư.."

"Tội lỗi ở khắp nơi, đúng không? Và Chúa tạo ra mọi thứ, không sai chứ?"

"Chính xác"

"Vậy ai đã tạo ra tội lỗi?" Vị giáo sư tiếp tục, "Nếu Chúa tạo ra mọi thứ, Ngài cũng tạo ra tội lỗi. Vì hành động thể hiện bản chất, và tội lỗi vẫn tồn tại, vậy Chúa là tội lỗi."

Một lần nữa, cậu học trò không câu trả lời. "Thế còn bệnh tật? Đồi bại? Thù hận? Gian ác? Tất cả những điều khủng khiếp, có tồn tại trên thế giới này không?

Cậu học trò nhỏ lúng túng trên đôi chân mình. "Vâng"

"Vậy ai tạo ra chúng?"

Cậu bé không trả lời, vị giáo sư lặp lại câu hỏi. "Ai đã tạo ra chúng?" Vẫn không có câu trả lời nào. Bỗng vị giáo sư đi qua đi lại trước lớp học. Cả lớp như bị thôi miên. "Còn cậu?", Vị giáo sư tiếp tục với một học sinh khác. "Cậu có tin Jesus Christ không?"

Giọng nói như phản bội với ông. "Vâng thưa giáo sư, tôi tin."

Vị giáo sư già dừng bước. "Khoa học cho biết cậu có năm giác quan để nhận diện và quan sát thế giới xung quanh. Cậu có bao giờ nhìn thấy Jesus?"

"Không, thưa giáo sư. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy Ngài."

"Vậy cậu đã từng nghe được tiếng Jesus của cậu chứ?"

"Tôi cũng chưa nghe thấy Ngài, thưa giáo sư.."

"Cậu có bao giờ cảm nhận Jesus, nếm Jesus, ngửi Jesus của cậu? Vì đó chính là vấn đề. Có bao giờ cậu nhận thức bằng giác quan nào về Jesus Christ, hay Đức Chúa Trời không?"

"Tôi e là không, thưa Giáo sư."

"Vậy cậu tin vào Ngài?"

"Vâng"

"Theo những nguyên tắc thực nghiệm, chứng minh, khoa học nói rằng Chúa của cậu không tồn tại. Cậu nghĩ sao về điều đó?"

Cậu học trò trả lời..."Tôi chỉ có niềm tin"

"Phải lắm, niềm tin." Vị giáo sư lặp lại. "Và đó là vấn đề giữa khoa học với Thượng Đế. Không có một bằng chứng nào, chỉ có niềm tin."

Cậu bé đứng im lặng trong khoảnh khắc, sau đó hỏi một câu hỏi. "Thưa giáo sư, nóng (nhiệt độ) có tồn tại không?"

"Có."

"Và lạnh cũng tồn tại chứ?"

"Phải, có nóng, cũng có lạnh."

"Không, thưa giáo sư. Không hề có lạnh."

Vị giáo sư quay lại, đối mặt với cậu học trò một cách hứng thú. Căn phòng bỗng trở nên rất im ắng. Cậu học trò bắt đầu giải thích. "Ngài có thể có nhiệt, thậm chí nhiệt độ cao, siêu nhiệt và hơn thế nữa, vô hạn, nhiệt trắng, một chút nhiệt hoặc không có nhiệt. Nhưng chúng ta không có cái gì để gọi là 'lạnh'. Chúng ta có thể xuống tới 458 độ âm, nơi mà không có nhiệt, nhưng chúng ta không thể đi xa hơn thế nữa.
Không có 'lạnh', vì nếu có ta đã có thể làm lạnh hơn mức thấp nhất -458 độ. Con người hay vật chất dễ nghiên cứu khi nó có hay truyền năng lượng, và nhiệt độ là những gì làm cho cơ thể hoặc vật chất có hoặc truyền năng lượng. Nhiệt độ mức zero (-458 F / -273 C) là hoàn toàn không có nhiệt.. Thưa ngài, 'lạnh' là từ mà ta dùng để mô tả sự không có nhiệt. Chúng ta không thể đo lường cái 'lạnh', nhưng có thể đo lường nhiệt độ bởi vì nó là năng lượng. Lạnh không trái ngược với nóng, thưa giáo sư, lạnh là sự không có nhiệt."

Sự im lặng bao trùm căn phòng. Một cây bút rơi đâu đó trong phòng, nghe giống như tiếng búa gõ.

"Thế còn bóng tối thì sao, thưa giáo sư? Sự tối có tồn tại không?"

"Có", vì giáo sư trả lời không hề do dự. "Ban đêm là gì nếu không có sự tối?"

"Ngài lại sai rồi, thưa giáo sư. Sự tối không là gì cả, nó chỉ là sự không có ánh sáng. Ngài có thể có ánh sáng, sáng bình thường, sáng chói, chớp sáng, nhưng nếu không có ánh sáng, sẽ không bao giờ có sự tối, phải không? Điều đó có nghĩa là chúng ta dùng để định nghĩa từ ngữ. Thực tế, sự tối tồn tại thì ta cũng có thể làm cho nó đen tối hơn nữa, phải không?"

Vị giáo sư nở nụ cười trước cậu học trò. Đây sẽ là một học kì hay. "Vậy quan điểm của cậu là gì?"

"Thưa giáo sư, quan điểm của tôi là, tiền đề triết học của Ngài không hoàn thiện khi bắt đầu, nên khi kết thúc cũng không hoàn thiện."

Trong lúc ấy, vẻ mặt của vị giáo sư không giấu được sự bất ngờ. "Không hoàn thiện ư? Cậu có thể giải thích không?"

"Ngài đang sử dụng tiền đề về tính biện chứng", cậu giải thích. "Ngài tranh luận rằng nếu có sự sống, thì có sự chết; một Chúa tốt và một Chúa xấu. Ngài đang nhìn nhận rằng khái niệm về Thượng Đế thì giống như một điều có hạn, một điều ta có thể đo lường được. Thưa ngài, khoa học thậm chí không thể gải thích một ý nghĩ. 'Nó dùng điện trường và từ trường, nhưng chưa bao giờ thấy, ít được hiểu cặn kẽ một trong hai(?). Cho rằng chết ngược lại với sống là không biết gì về sự thật rằng chết không thể tồn tại như một thứ độc lập. Chết không trái ngược với sống, nhưng là sự không có sự sống.' Thưa giáo sư, có phải ngài dạy học sinh của ngài rằng chúng được tiến hóa bởi một con khỉ?"

"Nếu cậu đang nói về quá trình tiến hóa tự nhiên, phải, tôi dạy như vậy."

"Ngài có bao giờ quan sát sự tiến hóa đôi mắt của chính mình, thưa giáo sư?"

Vị giáo sư bắt đầu lắc đầu, vẫn cười, vì ông nhận biết sự tranh luận đang đi tới chỗ nào. Quả thật là một học kì rất tốt.

"Không ai đã từng quan sát quá trình quá trình tiến hóa trong công việc và thậm chí không thể chứng minh rằng quá trình này đang cố sức tiếp diễn, vậy không phải ngài đang dạy học trò quan điểm của ngài chứ? Ngài không phải là một nhà khoa học nhưng là một nhà giảng đạo?"

Cả lớp náo động. Chúng chỉ im lặng khi sự rối loạn lắng xuống. "Tiếp tục quan điểm ngài đề cập lúc trước với bạn học sinh kia, tôi sẽ cho ngài một ví dụ." Những đứa khác nhìn xung quanh phòng học. "Có ai ở đây từng thấy bộ não của giáo sư?". Cả lớp cười ầm lên. "Có ai ở đây từng nghe thấy bộ não của giáo sư, cảm thấy não của giáo sư, chạm hoặc ngửi não của giáo sư? Không có một ai. Vậy, theo những nguyên tắc được thiết lập về thực nghiệm, chứng minh, khoa học nói rằng ngài không có não, với mọi sự kính trọng, thưa giáo sư. Vậy nếu khoa học nói rằng ngài không có não, làm sao chúng tôi có thể tin tưởng bài học của ngài, thưa giáo sư?"

Cả phòng học im lặng. Vị giáo sư nhìn chằm chằm vào cậu học trò, với vẻ mặt không thể hiểu được. Cuối cùng, sau những gì có vẻ như vĩnh hằng, vị giáo sư già trả lời. "Ta đoán cậu sẽ phải chấp nhận bằng niềm tin."

"Bây giờ ngài đồng ý rằng niềm tin tồn tại, thực tế, niềm tin tồn tại với sự sống,' cậu tiếp tục. "Thưa ngài, vậy tội lỗi có tồn tại hay không?" Vị giáo sư đáp lại một cách không chắc chắn, "Đương nhiên là có. Chúng ta thấy nó mỗi ngày. Nó xuất hiện trong những điều vô nhân đạo của con người với con người. Nó ở trong vô số những tội ác và bạo lực mọi nơi trên thế giới. Những hiện thực này không là gì khác ngoài tội lỗi."

Cậu học sinh trả lời, "Tội lỗi không tồn tại, thưa ngài. Tội lỗi chỉ đơn giản là thiếu vắng Đức Chúa Trời. Giống như tối và sáng, một từ ngữ mà con người đã sáng tạo để diễn tả sự 'không có Chúa'. Chúa không tạo ra tội lỗi. Tội lỗi là kết quả của những gì xảy ra khi con người không tình yêu của Chúa hiện hữu trong lòng. Giống như cái lạnh đến khi ở đó không có nhiệt độ, hay bóng tối đến khi không có ánh sáng."

Vị giáo sư ngồi xuống.

Nếu bạn đã đọc hết câu chuyện và có một nụ cười khi đọc xong, hãy gửi cho bạn và gia đình với tựa đề 'Chúa vs. khoa học'.

Tái bút: cậu học trò đó là Albert Einstein

Albert Einstein viết một cuốn sách tựa là "Đức Chúa Trời vs. Khoa học' trong năm 1921

Tiến sĩ Jerry L. Sheaffer

copy từ NMK facebook

Apr 5, 2012

THƠ MÀU TÍM HOA SIM - HỮU LOAN








theo macdinhchireunion.net

Lửa tam muội bí truyền’ kì bí trong thuật ướp xác của người Việt

Lửa tam muội bí truyền’ kì bí trong thuật ướp xác của người Việt

Cập nhật lúc :10:25 AM, 04/04/2012

Nhục thân của thiền sư Như Trí ở chùa Tiêu (Bắc Ninh) mang đậm màu sắc tâm linh, nhưng với nhãn quan khoa học, người đời nay đặt câu hỏi rằng, bằng phương pháp gì và con đường nào mà thi thể của ông không bị thời gian hủy hoại?




Bí ẩn trong am cổ

Cách Hà Nội hơn 20km, trên đường đi Bắc Ninh, có tấm biển lớn chỉ đường về chùa Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn. Ngôi chùa này vốn có tên Thiên Tâm, dựng từ thời Tiền Lê, là nơi thiền sư Vạn Hạnh tu hành, giảng đạo và dạy dỗ Lý Công Uẩn, người khai sinh Thăng Long - Hà Nội.

Ai đã đến chùa Tiêu đều không quên ni sư Đàm Chính, người có vẻ mặt đôn hậu và đôi mắt hiền hòa. Hơn 60 năm về trước, khi là một thiếu nữ 17 tuổi, sư Đàm Chính đã về tu nghiệp ở chùa.



Nhục thân được phục dựng lại của thiền sư Chuyết Chuyết (chùa Phật Tích) là một minh chứng khác cho thấy phương pháp tượng táng đặc biệt của người Việt: sau khi thiền sư tịch, các tín đồ đã lấy dây đồng để dựng khung xương theo thế ngồi thiền rồi tạo tượng phủ bên ngoài xương bằng chất bồi mà chủ yếu là mạt cưa, vải, sơn ta… Pho tượng trước khi phục chế đã bị vỡ thành 342 mảnh, gồm 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi, được phục dựng lại hình hài bằng phương pháp Geraximov.

Năm 1971, cái năm mưa liên miên, cây cối mọc nhiều trong vườn tháp, khiến nhà chùa phải bắc thang lên cắt rễ cây ăn sâu vào tháp. Vén một nhành cây phủ tháp Viên Tuệ, ni sư thấy một viên gạch màu đỏ, trên có ghi tên và năm tịch của người trong tháp. Qua khe nứt, ni sư kinh hãi nhận thấy một người ngồi thiền trong tháp, nhưng ni sư bịt chặt kẽ hở và giữ kín chuyện, mãi tới năm 1996 mới thưa lại với Hòa thượng Thích Thanh Từ - Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, khi tới thăm chùa Tiêu Sơn. Ni sư ngỏ lời nhờ Hòa thượng giúp đỡ và người của Thiền viện Trúc Lâm ngỏ lời với PGS Nguyễn Lân Cường.

Lần theo văn tự trên viên gạch đính trên tháp, được biết rằng, người ngồi trong tháp có đạo hiệu là Ma ha đại Tỳ kheo Như Trí; tháp được kính cẩn hoàn thành vào ngày lành mùa Xuân niên hiệu Bảo Thái thứ 4 (1723) triều Lê Dục Tông. Thân thế sự nghiệp của Thiền sư Như Trí đến nay chưa tìm thấy sử sách, chỉ xuất hiện trong một vài tác phẩm văn Nôm chưa có dịp kiểm chứng. Những tư liệu đó cho biết, ngài có cùng một số huynh đệ có cùng chữ Như, phụ giúp Thiền sư Chân Nguyên sao lục ấn hành những tác phẩm của thời Trần còn sót lại trong nhân gian như Khóa Hư Lục, Tam Tổ Trúc Lâm, Kiến Tánh Thành Phật và đặc biệt là năm 1715 in lại bộ Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục - một bộ sách rất có giá trị về văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Theo Thượng tọa Thích Thông Phương – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử thì “Thiền sư Như Trí là đệ tử nối pháp của Thiền sư Chân Nguyên, một thiền sư thời Hậu Lê có công phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, do sư tổ Trúc Lâm – vua Trần Nhân Tông mở ra và từng trụ trì chùa Long Động ở Yên Tử, nay là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Hiện nay ở đây còn tháp đá tôn thờ Thiền sư, gọi là tháp Tịch Quang”. Thượng tọa Thích Thông Phương cũng nhận xét rằng, Thiền sư Như Trí đã an nhiên trước sinh tử, thị tịch trong tư thế khiết già và để lại nhục thân cho đến ngày nay, càng làm sáng tỏ dòng Thiền Trúc Lâm trên đất Việt và cho thấy chư Tổ người Việt tu hành rất có kết quả cao sâu, đúng với chân lý bình đẳng mà Phật đã dạy.

Ngày 5/3/2003, nhục thân Thiền sư Như Trí được đưa ra khỏi tháp, trong tư thế bán già, tay kết ấn tam muội, nhưng vì ẩm mốc nên bị mục rớt phần cẳng tay, nhiều phần hư hỏng nặng, có nhiều vỏ trứng của các loài côn trùng hoặc bò sát nằm rải rác quanh bệ sen làm bằng gốm non màu đỏ.

Điều khác biệt là trong lớp bồi không có thếp vàng, thếp bạc, nhưng trong lớp bồi lại có những miếng đồng mỏng, có tác dụng đỡ cho nhục thân Ngài qua nhiều năm không bị gục xuống. Khi PGS Cường tu bổ pho tượng táng này là ông đã phát hiện ra một khối hợp chất bằng quả bưởi nằm trong bụng thiền sư. Ông khẳng định: “Tượng được phủ kín bằng lớp bồi, phía dưới lại có đáy gốm hình tòa sen, do đó, khối vật chất này không thể lọt vào ổ bụng được”.


Đưa nhục thân thiền sư Như Trí vào khám rồng.

Ông Cường và các nhà khoa học lấy mẫu chuyển đến Viện Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia để phân tích bằng phương pháp phổ nhiễu xạ tia X, kết quả cho thấy, hợp chất lấy từ bụng thiền sư Như Trí chính là các chất còn lại của phần phủ tạng. Như vậy, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam chúng ta phát hiện và chứng minh được có phần nội tạng trong bụng Thiền sư, tức là thi thể Thiền sư được ướp theo một cách thức riêng, không hề giống với cách ướp xác của người Ai Cập.

Việc tu bổ pho tượng nhục thân thiền sư Như Trí đã hoàn thành, Ngài đã trở lại dáng vẻ gần như ban đầu và tiếp tục ngồi “kiết già” trong nhà thờ Tổ với sự bảo quản cẩn thận của khoa học hiện đại.

Tuy nhiên, câu hỏi lớn đặt ra với các nhà khoa học là, sự xâm hại nghiêm trọng của thời tiết, vi khuẩn, côn trùng hàng mấy trăm năm, vì sao ngài vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí cả khối vật chất của phủ tạng cũng vẫn còn nguyên vẹn?

Yếu quyết tự ướp xác

Theo nhà Phật, người chết mà để lại những phần không bị thiêu hủy sau khi hỏa táng thì gọi là xá lợi. Xá lợi ấy nhiều khi cũng rất đặc biệt, ví như cái lưỡi của ngày Duy Ca Mật, một vị thuyết pháp người Ấn Độ, hay như quả tim của vị danh tăng Thích Quảng Đức để lại do tự thiêu để phản đối chế độ Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại thì, đức Phật sau khi viên tịch cũng để lại xá lợi là những viên ngọc ngũ sắc mà ngay cả nhiệt độ rất cao cũng không thiêu hủy được.

Nếu là những bậc chân tu, sau khi luyện được tâm thanh tịnh thì họ đạt được ngũ thông hoặc lục thông. Tai họ có thể nghe được âm thanh cực nhỏ hoặc từ rất xa; mắt nhìn được xa những vật rất nhỏ, tâm có thể đọc được ý nghĩ của người khác. Tuy nhiên, các gốc của Phật giáo không phải là để đạt được ngũ thông, lục thông mà là để chuyển hóa cái tham, sân, si trong con người mình đến chỗ an nhiên, thanh tịnh. Để dù mắt thấy sắc, mũi thấy mùi, tai nghe rõ… nhưng trong tâm không nảy sinh bất kỳ một ý niệm nào ưa thích hay ghét bỏ, phiền não. Nếu tu được đến mức độ như vậy thì quá khứ hay hiện tại sẽ không còn ngăn cách nữa. Tất cả những yếu quyết để tự ướp xác này là một phương pháp bí truyền có tên là “lửa tam muội”.
Tương truyền, lửa tam muội nghĩa là một ngọn lửa huyền bí, là thứ năng lượng đặc biệt của con người. Người ta dùng hô hấp để kích động các bí huyệt trong cơ thể, để lúc nào cũng cảm thấy ấm áp như được khoác một bộ áo dày, mà người Tây Tạng gọi là “mặc áo tiên”. Khi đã nhập định, người ngồi thiền cảm thấy thân tâm thoải mái, an lạc, dễ chịu mà người ta hay gọi là “sống trong tiên cảnh”.

Cũng như khinh công, luyện lửa tam muội là một phương pháp bí truyền, phải có thầy chỉ dẫn, chứ không thể học theo sách được. Thầy phải là người đã luyện thành công lửa tam muội mới có thể chỉ dạy được, để biết rõ các nguy hiểm trên đường tập luyện, vì một sai lầm có thể đưa đến điên loạn hay tử vong. Hành giả phải có một thân thể cường tráng, mới có thể khắc phục được những khó khăn bước đầu.

Viên gạch đính trên tháp chứa nhục thân Ngài ghi rõ: Nhục thân ở trong tháp có tên là Ma ha Đại Tỳ kheo Như Trí (theo bản dịch của PGS.TS Đỗ Thị Hảo).

Cũng như mọi phương pháp bí truyền, người ta thường thêu dệt nhiều điều huyền hoặc, khó kiểm chứng. Tuy nhiên, đằng sau những điều khó tin này, vẫn ẩn tàng một cái gì đó cần gạn lọc để tìm ra tinh hoa ở bên trong.

Thông thường, môn sinh ngồi cho thật vững vàng, thoải mái. Cách ngồi phổ biến là kiết già hoặc bán già. Sau khi tập ngồi thuần thục, chân tay hết nhức mỏi thì bắt đầu tập thở cho thật đều, thật sâu trước khi hít thở theo nghi thức. Như vậy, môn sinh ngồi thế kiết già bắt chéo hai chân, bàn tay đặt lên đầu gối, ngón cái, ngón trỏ và ngón út thẳng ra, ngón giữa và ngón áp út thu vào lòng bàn tay. Thoạt đầu, họ thở cho thông hai lỗ mũi, sau đó tập trung tư tưởng vào hơi thở. Khi thở ra, họ tưởng tượng mình đang xả bỏ các tính xấu như tham lam, ích kỷ, ngạo mạn, hận thù. Khi hít vào, họ tưởng tượng mình đang thu vào những tính tốt như từ, bi, hỷ, xả, thanh tịnh. Tiếp theo, họ hít vào, dồn khí xuống bụng, nín thở trong một thời gian ngắn, trước khi từ từ thở ra. Cứ tập như thế, đến khi cơ thể hoàn toàn thả lỏng, tâm trí dứt hết các nỗi lo lắng, ưu phiền, hoàn toàn thoải mái tự tại.

Nếu đạt yêu cầu, môn sinh được chấp nhận cho làm lễ điểm đạo truyền pháp. Họ sẽ bỏ bộ áo dày, chỉ khoác một tấm vải mỏng. Và từ đó, họ không ngồi gần lửa, tìm đến nơi hoang vu, thanh vắng, có độ cao trên bốn ngàn thước để hít thở không khí trong lành. Bí kíp ghi rõ: “Không được tập luyện trong nhà cửa, xóm làng, vì không khí ở đó bị ô nhiễm củi lửa, có những rung động không tốt, ngoại cảnh làm xáo trộn tâm trí của hành giả”. Hành giả sẽ sống cô đơn ở nơi hoang vu, bỏ hết phiền não cõi trần.

Sau khi hợp nhất khí huyết, môn sinh tưởng tượng có một quả cầu lửa to bằng nắm tay sẽ sáng rực ở rốn, mỗi hơi thở sẽ như ống bễ quạt cho ngọn lửa này cháy to hơn, mỗi lần dồn khí xuống sẽ kích thích quả cầu này tỏa nhiệt mạnh mẽ.

Hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra đều nương theo một câu chú để giữ ngọn lửa đó không tắt. Nhờ trước đây đã luyện thành thục cách quán tưởng xả bỏ tham sân si khi thở ra, và thu từ bi hỉ xả khi hít vào nên tâm được thanh tịnh. Nếu đốt cháy giai đoạn, cẩu thả luyện khí mà chưa điều ngự được tâm, thì vọng niệm nảy sinh, luồng hơi nóng sẽ chạy loạn xạ vào các kinh mạch, khiến môn sinh có thể điên loạn và tử vong.

Nếu tâm không còn vọng động, môn sinh có thể dùng tư tưởng hướng dẫn luồng hơi nóng đi thẳng vào các thần mạch.

Đỉnh cao của phương pháp luyện lửa tam muội là tự thiêu đốt đi lớp mỡ trong cơ thể mình và chỉ để lại những phần bất hoại với thời gian. Khi những thiền sư đốt đến giọt năng lượng cuối cùng thì cũng là lúc họ vĩnh biệt cõi trần. Chính vì thế, nhục thân của họ không bị phân hủy và trở nên bất tử.

Người đời vẫn thường kể lại câu chuyện, trước khi qua đời, thiền sư Vũ Khắc Minh đã chuẩn bị sẵn cho mình một am nhỏ trên vách núi. Khi bước vào trong am, thiền sư dặn dò các đệ tử của mình rằng: “Mang cho ta một chum nước uống và một chum dầu để thắp. Khi nào thấy dứt tiếng mõ hãy mở cửa am ra. Nếu thấy thi thể của ta đã hỏng thì dùng đất lấp am đi, còn ngược lại thì dùng sơn ta mà bả lên thi thể”.

Nhiều chuyên gia cho rằng, thiền sư Vũ Khắc Minh đã luyện được lửa tam muội tới mức tối thượng và dùng nó để bước vào cõi hư vô, bất tử. Như lời hòa thượng Thích Thanh Tứ nói lúc sinh thời thì, đây là kết quả của một quá trình rất dài chứng nghiệm trong tu tập, loại bỏ tất cả những tạp niệm của tâm để đạt đến sự giác ngộ viên mãn.

Năng lượng con người là một thế giới còn ẩn chứa vô vàn những bí mật chưa được khám phá. Nhục thân của các vị thiền sư Việt có lẽ đã gợi mở rằng, con người sở hữu một nguồn năng lượng vô hạn và khát vọng bất tử đã tồn tại trong nhiều thế kỷ qua.

theo DATVIET

Apr 3, 2012

Qủy Cốc - Hồi 35 - Dạ Yến Diệt Ma - THIÊN MA THẦN GIÁO

Qủy Cốc - Hồi 35 - Dạ Yến Diệt Ma 

 

Nói về Bành lão , sau khi mời mọi người tiếp tục quay trở lại tòa sảnh , Bành Chưởng Môn gọi Lâm Mã Chấn và Bành Cổn lại , ông hơi nhíu mày rồi khẻ nói : 
_ Các ngươi thu dọn sạch sẽ , nhớ tìm cho đủ hai mũi tên , còn … 
Nói đến đây ông chợt nói to lên : 
_ Huynh đài vừa rồi trúng nắng lâm bệnh , chăm sóc hắn cho cẩn thận , nhớ cho hắn dùng bài 
“ Khu Phong Tiêu Nhiệt “ … 
Lâm Mã Chấn và Bành Cổn vâng dạ và mau chóng hò hét đám môn nhân Côn Luân , vạch từng bụi cây ngọn cỏ đễ thu hồi hai mủi tên chắc là quý hiếm lắm , tìm mãi mà chẳng thấy , một tên môn nhân loay hoay mà chẳng tìm được gì bèn ngồi bệt xuống thảm cỏ , nhìn Lâm Mã Chấn , hắn nói to : 
_ Nhị ca à , chắc là hắn dính hai mũi luôn đấy , không đi xa được đâu , mai ta tìm xa hơn thì chắc là thấy thôi …. 
Lâm Mã Chấn ngẩng lên , quẹt dòng mồ hôi đang tuôn chảy , chàng biết tầm quan trọng của hai mũi tên , nó có độc , việc này không thể đễ lộ ra giang hồ , cho nên Bành sư phụ mới yêu cầu Bành đại ca và Lâm nhị ca trực tiếp tìm kiếm , nếu hắn trúng cả hai mũi thì phước cho nhà Côn Luân còn bằng không thì … nghĩ đến đây ,Lâm Mã Chấn quay sang gọi sư huynh Bành Cổn , lúc này đang ngồi nghỉ trong bóng râm một thân cây cổ thụ : 
_Đại sư huynh à , nếu gian tặc trúng tên , dù một mũi cũng khó đi xa , ngày mai ta đi sâu vào rừng chắc cũng dễ tìm thấy hắn , lúc ấy sẽ biết hắn trúng một hay hai ngay thôi … 
Bành Cổn đứng dậy , chàng cúi đầu ra dáng suy nghĩ , mất năm giây chàng lên tiếng : 
_ Lâm đệ nói nghe cũng có lý , thôi cho anh em về , 
chiều nay chúng ta còn phải tỷ thí … 
Nói đến đây Bành Cổn thở dài đánh sượt ra chiều chán ngán cái trò tỷ thí tranh ngôi truyền nhân chưởng môn , mà chàng biết rỏ là phần thắng sẽ thuộc về chàng thôi. 
Lâm Mã Chấn nghe Bành Cổn nhắc đến vụ tỷ thí thì Lâm nhị hiệp nhà ta cũng thở dài một tiếng có phần còn thê thiết hơn cả đại sư huynh , ai mà đấu qua Bành 
đại ca nhỉ , họa chăng là ác ma khi nảy …Lại nói về quần hùng từ khi chứng kiến công lực của ác ma áo màu son thì nhuệ khí “Thượng đạo diệt ma “ có phần hơi giảm sút , nhận rỏ điều này nên Bành chưởng môn đã ra sức trấn an và tỏ rỏ ý chí diệt ma của Minh chủ cũng như của Côn luân nhân , ngay chiều hôm nay Bành lão đã ra một lễ thiệp , trong đó mời mọi người dự một đại yến lần thứ hai ngay trong đêm đễ bàn việc liên minh mở rộng , thống nhất mặt trận “ Thượng đạo diệt ma , thượng tôn chính khí “ của võ lâm kễ từ hôm nay , trong cáo 
bạch được môn nhân Côn Luân tuyên đọc rồi dán ngay trước khu nhà khách , Bành chưởng môn nêu rỏ tầm nguy hại của việc Thiên ma giáo quay trở lại , mà việc ác ma gian tế vừa cướp đoạt bảo bối của Đại Pháp Tự là một minh chứng điển hình … 

 

Tâm Minh đại sư và hai cao tăng của Đại Pháp Tự thì tỏ ý không tham dự và muốn quay về , Bành Khoái Hạc lập tức đích thân đến biệt thất của các vị Đại Pháp Tự , vừa trông thấy hai cao tăng đang thu xếp hành lý , Bành chưởng môn lật đật cung tay thưa : 
_ Thật là thất lễ , thật là đắc tội , xin quý vị dừng bước , Bành Mổ thật có lỗi vì đã đễ gian 
tặc cướp mất “lời nhắn “ , Côn Luân sẽ truy bắt hắn nay mai thôi , chư tăng bình tâm … 
Tâm Minh đại sư lúc này đang ngồi trên một chiếc đôn , ông đang có vẽ suy nghĩ , ngước lên nhìn Bành Khoái Hạc và hai môn nhân tùy tùng , ông từ tốn đáp lời bằng một cái giọng lơ lớ : 
_ Thiện tai , thiện tai , làm phiền Bành chưởng môn quá , nhưng bổn tự thấy không 
còn gì đễ ở lại , “ lời nhắn “ đó có lẽ tự tìm ra người nhận của nó , bổn tự cảm thấy đã xong việc … 
Nói đến đây Tâm Minh buông thêm một tiếng mô Phật rồi ông làm một cữ chỉ mời Bành lão vào phòng , rồi lại quay sang nói một tràng tiếng lạ với hai vị tăng một già một trẻ , Bành lão không hiểu gì cã , lão tự trách lúc nảy không mời Đại Bất Tri Liễu Trường Giang đi cùng … 
Trong thâm tâm Bành chưởng môn cũng không coi Đại Pháp tự có liên quan đến vận mệnh võ lâm trung nguyên , ông mời họ chỉ theo phép lịch sự khi họ báo tin sẽ đến đễ trao “lời nhắn” , nhưng tình thế này nếu Đại Pháp Tự ( đầu giây mối nhợ vụ việc sáng nay ) mà bỏ đi ngay lúc này thì quả là không hay cho Côn Luân , Bành chưởng môn bước hẳn vào phòng , ông cười vui vẽ , nói lớn : 
_ Cung kính cung kính , Đại Pháp Tự thần thông siêu tuyệt , Bành Mổ rất ngưỡng mộ , mà quần hùng cũng như Thiếu Lâm Không Động đều 
muốn học hỏi kiến văn của đại sư về võ công của tên ác ma ban sáng cũng như Liễu huynh ( ông gọi Đại Bất Tri là Liễu huynh , có lẽ Bành Khoái Hạc nghĩ Liễu Trường Giang có mối thâm giao với Tâm Minh từ xưa , nên ông nhân cơ hội nhận người quen luôn thể ) chắc cũng muốn hầu chuyện đại sư ngõ hầu ….ngõ hầu … 
Bành lão ngập ngừng , như dò ý của Tâm Minh đại sư , Tâm Minh đại sư nảy giờ lắng nghe Bành lão đến đây thì thấy Bành chưởng môn ấp úng thì ông cũng chú ý , Tâm Minh mô Phật một tiếng rồi nói : 
_ Thế Bành Chưởng môn cần gì nơi Đại Pháp Tự , bần tăng lực yếu trí cùn , không can dự vào việc hơn thua chắc chẳng giúp gì được …vả lại trung nguyên còn có nhiều danh môn chính phái cao nhân kỳ tuyệt , e rằng …Tâm Minh bỏ lửng . 
Thế là Đại Pháp Tự dính bẩy của Bành lão , Bành lão cười khà trong đầu , ai mà chẳng có sỹ diện , dễ mấy khi được Thiếu Lâm Không Động , một Phật môn một 
Đạo môn lừng danh trung nguyên mà lại phải hỏi thăm mình chứ nhể ! 
Bành Khoái Hạc đứng lên trịnh trọng cung tay nói với Tâm Minh sau khi nhìn hai vị cao tăng tùy tùng : 
_ Vận mệnh võ lâm trung nguyên đang vào hồi nguy biến , nếu được Tâm Minh Đại Sư cùng hai vị đây giúp đở bằng cách giãi đáp một vài điều trong tối nay rồi ngày mai lên đường cũng chưa phải là muộn 
… 
Thấy Bành lão tha thiết quá thì Tâm Minh cũng thấy áy náy , ông tỏ vẽ miển cưởng gật đầu một cái sau khi suy nghĩ mất hai giây : 
_ Thiện tai , Bành chưởng môn nói quá , thôi thì bần tăng xin thêm một bửa cơm chay vậy … 
Bành Khoái Hạc tỏ vẽ vui mừng , ông lật đật đứng lên cung tay cảm ơn rồi thét gọi môn nhân đem trà nước và hấp tấp bước đi như sợ Tâm Minh đổi ý . 

 

Buổi chiều cuộc tỷ thí vẩn diễn ra như đã định , nhưng bọn Cửu Kiếm lúc này nhiệt huyết cũng giảm bớt , bọn đệ tử ngoại môn của Côn Luân thì chỉ có vài tên như Phong Lưu Mỹ Tuyệt Lưu Thủy Lang và vài người kém danh khác tham dự , buổi tỷ thí chỉ còn có tính chất biểu diễn cho người ngoài xem , không nói lên được tính cạnh tranh phải có , một số cao nhân trưởng bối của Côn Luân cũng nhận ra điều này , cho nên kết quả chung cuộc thì Bành đại ca của Thất Hùng Côn Luân dành ngôi thủ quân , Lâm nhị hiệp , Phong Lưu Mỹ Tuyệt Lưu Thủy Lang và Vô Ảnh 
Kiếm Từ Hi Chung cùng ngôi á quân , Thất Chỉ Tiên Kiếm Bành Dung Toại , ca ca của Bành chưởng môn cũng nhận thấy điều này nên dù là chủ trì việc thượng đài nhưng ông đã lên tiếng trước môn nhân Côn Luân cũng như quần hùng đang thưởng lãm võ học Côn Luân : 
_Cung kính chư vị anh hùng nữ hiệp võ lâm , môn nhân Côn Luân , tại hạ nhận thấy việc tỷ thí hôm nay không như ý muốn , các thí sinh tham dự không có quyết tâm tranh thắng , nên buổi tranh hùng này chỉ nên được xem như một cuộc biểu diễn công phu chúc mừng thượng thọ Bành đệ ( ông ám chỉ 
Bành Khoái hạc ) các môn đệ cao thủ Côn Luân hôm nay sau nhiều việc xảy ra ngoài mong muốn , chắc cũng đã thấm mệt , hao tổn tâm trí , không còn nhiệt huyết cao độ , ảnh hưởng đến thi tài … 

Bành Dung Toại còn nói dài dòng , giải thích cặn kẻ và ông kết luận : 
_ Kết quả hôm nay thắng bại không còn quan trọng với việc thụ lảnh truyền nhân , việc truyền nhân của Côn Luân sẽ được hội đồng Truyền nhân định đoạt vậy . 
Có lẽ mọi người cũng tán đồng với Bành Dung Toại , cái mà mọi người quan tâm hơn là dạ yến khoản đãi quan khách tối nay , ở đó người ta sẽ có thêm nhiều thông tin hơn về những gì đã diển ra từ sáng đến giờ , những biến cố kinh khiếp làm mọi người thật sự chấn động và tin Đại Pháp Tự đồng ý lưu lại một đêm cũng làm mọi người phấn chấn 
… 
Trời lại ngã về chiều , cuối thu chớm đông , gió trở lạnh ào ạt thổi làm ngã nghiêng cây lá , bóng chiều lảng đảng , chim từng đàn kéo nhau về tổ , thế mà đâu đây lại nghe văng vẳng tiếng ngựa mất chủ hí vang sầu thảm … 
Tên “ác 
ma” trúng thương thì vẫn ngồi bất động theo tư thế nhập thiền vận công chữa thương . Chung quanh y trời đã sụp tối , gió thổi từng cơn buốt lạnh nhưng dường như y chẳng cảm thấy gì , tâm trí của y giờ này không mộng mị không suy nghĩ gì cả , mơ hồ và bất định …không lẽ y chết rồi chăng ? 

 

Buổi dạ yến của Côn Luân được tổ chức đơn giản , địa điểm đã được Bành lão sau khi hội ý với các trưởng bối đã dời về một tòa điện nằm phía sau khu nhà Côn Luân , nó có vẽ nhỏ hơn và đặc biệt , nó là một cái hang đá nằm dựa vào một vách núi được khoét sâu thêm , bài trí đơn giản , có lẽ khi xưa lợi dụng sự vô ý của thiên nhiên nên Côn Luân chỉnh trang lại làm nơi tu luyện , hay tụ tập hội họp dành riêng cho các cao thủ trưởng bối môn phái . 
Vì hơi nhỏ nên các bàn ghế cũng ít đi , thật ra một số đại ca hảo hán thuộc “xóm nhà lá” thấy không còn gì đễ lưu luyến mà 
còn có thể mang vạ nên cáo lui không kèn không trống , một vài cao thủ đa tâm hay lo xa thì cũng sợ liên can vì dạ yến có vẽ giống hội nghị diệt ma , mà ma thì đã thấy ban sáng rồi nên cũng có phần sợ ma xin về sớm . 
Mai Viên Hồng Cô tứ hiệp Thất Hùng lăng xăng chạy đi chạy lại , nàng hôm nay phụ trách phần tiếp đón quần hùng , buổi tối hôm nay theo chủ ý của Bành sư phụ là một buổi tiệc chia tay nhưng cũng là buổi họp đễ Côn Luân tuyên cáo về liên minh Thượng Đạo Diệt Ma có phần mở rộng ra các môn phái khác nhằm đoàn kết võ lâm , hội tụ anh 
hùng hảo hán hiệp nữ kiệt liệt của giang hồ trung nguyên , không phân biệt Bạch Đạo , Hắc Môn , miễn là có dũng khí thế thiên hành đạo tiêu diệt ác ma đem lại an bình cho trung nguyên … 

Người đầu tiên đến phó hội lại là Long Môn Chủ Long Đầu Đao Trương Thất Tú , người mà Mai cô nương đem ra cười cợt hôm hội nghị truyền nhân Côn Luân , vừa nhác thấy người đẹp Long Môn Chủ lật đật vòng tay thi lễ rất trang trọng : 

_ Cung kính diện kiến Mai nữ hiệp , ( Long Môn Chủ nở một nụ cười rộng lớn ) mấy hôm nay bổn môn thật là thất lễ chưa đến ra mắt Mai cô nương ( Long Môn Chủ hẳn là bấn loạn tâm thần nên lúc thì Mai nữ hiệp lúc lại cô nương loạn lên ) 
Mai Viên Hồng Cô nở một nụ cười ý nhị , nàng chợt nhớ hôm nào Long Môn Chủ nhà ta điệu bộ đầy khoe mẻ với các người 
đẹp tại Cửu Tuyết Đầm , rồi hình ảnh Trương huynh với đao ảnh loang loáng vào sáng nay quyết đấu với tử y nhân thoáng qua thật nhanh tâm trí nàng , nàng chợt nở một nụ cười tươi nhất trong ngày mà chính nàng cũng không hiểu tại sao , nàng cất giọng nhỏ nhẹ : 
_ Tiểu nữ không dám , Cung Thỉnh Long Môn Chủ an vị … 
Nói xong nàng đưa tay mời Trương Thất Tú , 
Tất Cửu ( ngũ hiệp của Giang nam Ngũ Hiệp ) cùng vài tên môn đệ bước vào sơn động , cùng đi với bọn Long Trấn Môn còn có tên giang hồ thám tử Hồ Đoản , không thấy bọn Đại Câu Phàm và Cổ Chung Song cùng đi với tên này . 

 

Lần lượt các đoàn hiện diện ban sáng cũng lục tục kéo vào , tuy vậy người ta thấy sĩ số của các đoàn đã 
giảm , có lẽ nhiều môn hạ của các phái đã ở nhà đễ thu xếp hành trang chuẩn bị ngày mai từ giả Côn Luân … 

Bành Chưởng môn tối nay thay đổi trang phục , ông mặc một chiếc áo theo kiểu đạo sỹ màu thiên thanh thêu vân long phụng , áo khoác dài bằng nhung màu cẩm trông oai phong lẩm liệt , chiếc ghế ông ngồi vẩn là chiếc ỷ được khiêng từ sảnh ban sáng đặt trang trọng giửa phòng tiệc chung quanh vách hang được cắm đầy những bó 
đuốc được đốt bằng dầu phộng , ánh lữa cháy bập bùng loang loáng làm không gian của hang đá vừa trầm hùng vừa bí hiểm … 
Quan khách tham dự đêm nay đã đến đầy đủ , tiếng bàn tán những sự kiện diển ra ban sáng vẩn râm ran sôi nổi trong quần hùng tham dự . 
Lâm Mã Chấn tối nay cũng vận võ phục với thanh kiếm đẹp , Lâm nhị hiệp tiến lên phía trước, chàng vòng 
tay khắp lượt rồi cất tiếng sang sảng thưa với quần hùng : 
_ Cẩn cáo chư vị anh hùng nữ hiệp , Côn Luân tối nay lại xin làm phiền chư vị đồng đạo võ lâm cũng như các bậc trưởng bối cao nhân một lần nửa, những sự việc xảy ra vào lúc sáng đã khiến cho nhiều bậc trưởng thượng các phái lo lắng về mối an nguy của võ lâm , Côn Luân chúng tôi mạo muội một lần nửa vấn kế chư anh hùng hầu xây dựng một liên minh mới cho công cuộc Thượng đạo diệt ma … 
Bài diển văn của Lâm Nhị hiệp còn khá dài , quần hùng vừa nghe vùa thỉnh thoảng tán ra tán vào , Long Môn Chủ Trương Thất Tú thì tai vừa nghe mà mắt của hắn thì đảo xuôi đảo ngược , hẳn chàng đang tìm kiếm bóng hồng Mai cô nương , ngày mai thì hắn cũng phải rời Côn Luân và chắc sớm lắm thì sang năm mới gặp lại ( nhưng chưa chắc Thượng thọ còn tổ chức nữa ) nên Long Môn Chủ nhà ta thấy có nhu cầu thổ lộ nổi niềm chứ nếu ôm một cục tương tư bự thì chắc Long Môn Chủ chết mà “trái tim còn trinh” thì 
lấy ai đi tiên phuông diệt hung trừ bạo . 
Khi quần hùng nhiệt liệt hoan hô Bành Cổn và Lâm Mã Chấn được nhắc đến với chiến công đánh đuổi Thiên Ma nhân sáng nay thì Trương Thất Tú mới giật mình ngó lại , hắn thấy Bành Khoái Hạc đang đứng lên và chìa tay mời Tâm Minh đại sư , Vô Sắc Đại Sư , Lã Thị Sư Thái Nga My cùng các vị chưởng môn lên an vị trên khán đài . 
Bành chưởng môn cung kính cúi người vái chào chư vị anh hùng , đoạn ông nói to , giọng trầm hùng lồng lộng vang vang trong hang động : 
_ Cung kính chư liệt vị anh hùng kiệt liệt của võ lâm hôm nay , Bành mổ rất lấy làm cảm kích sự hưởng ứng của chư liệt vị đối với Bổn môn , hôm nay Côn Luân long trọng kính báo với chư đồng đạo võ lâm , Liên minh Thượng đạo diệt ma của Tứ bang chúng tôi đã được sự hưởng ứng tiếp tay của nhiều môn phái lớn , của nhiều huynh đệ , đồng đạo , chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng Vô Sắc Đại Sư , Truyền y bát Thiếu Lâm Chính phái , Lã sư thái chưởng môn Nga My …. 
Bành chưởng môn còn nêu tên một loạt các môn phái lớn , nhỏ đã đồng ý đứng chung liên minh diệt ác ma với Côn luân mà người minh chủ lảnh đạo hôm nay là ông , ông còn nói nhiều về những sách lược , kế hoạch của công cuộc “bi tráng và anh dũng “ của Côn Luân với quần hùng kể từ năm mươi năm về trước đến bây giờ … 
Long trấn môn cũng không ngoại lệ , nhưng Trương Thất Tú thấy công cuộc diệt ma không hấp dẩn bằng cô em Mai Viên của 
Côn Luân , Trương huynh biết rằng cách thức tiếp cận người đẹp dễ dàng nhất là qua công cuộc diệt ma này chàng có thể có cơ hội lên xuống Côn Luân đều đều , nên quần hùng lấy làm ngạc nhiên khi Long Môn Chủ đứng lên phát biểu hào hùng như sau : 
_Cung kính chư vị anh hùng hiện diện tại đây , Trương mổ tuy không phải là tài cao sức trọng , chỉ là xuất thân bảo tiêu kiếm ăn , nhưng nhận thấy ác ma quay đầu trở lại , đe dọa tính mạng nồi cơm của nhiều người , Trương mổ tự thấy mình không vướng bận thê tử ( vụ này Trương huynh muốn ngầm giới 
thiệu gia cảnh chăng ) nối gót thân phụ xã thân vì đại cuộc ( cái này chắc hẳn Trương nhà ta ngầm khoe thân thế ) tử chiến với ác ma năm xưa , Trương mổ cùng hai trăm anh em của Long Trấn Môn nguyện đi tiên phuông mở đường cùng với chư anh hùng Côn luân giải phóng Thiên Sơn …. 
Không biết động lực hay động cơ nào khiến Long Môn Chủ ăn nói lưu loát quá thế , đám môn hạ của Trương huynh cứ há hốc mồm nhìn chòng chọc vào chàng vì lần đầu tiên chúng nghe chàng nhắc đến những từ mà bình sinh chàng chẳng nói bao giờ , nhiều tên bần thần vì không hiểu sau cái 
vụ diệt ma này Long sư phụ có còn cho anh em đi bảo tiêu bảo kê gì không ?! 


Bành Khoái Hạc khá bất ngờ khi Long Môn Chủ đòi làm tiên phong xông pha tuyến đầu , ông nghĩ “ tên nhải nhép đầu trộm đuôi cướp này mà đòi làm tiên phuông ư , hẳn lại muốn kiếm chút danh còm đễ đi bảo kê tửu điếm lầu xanh đây “ tuy thê Bành lão lại cung 
tay chúc mừng Trương Thất Tú , ông cười lớn đầy hào sảng : 
_ Đa tạ , đa tạ Trương Môn Chủ có lòng với công cuộc chính nghĩa của võ lâm hôm nay , võ lâm giang hồ có những người như Long Môn Chủ thì thật là phúc cho chúng ta , lo chi mà sứ mệnh cao cả này không hoàn thành … 
Nói đoạn ông bước xuống nâng chén mỹ tửu mời Trương anh hùng một chén trong 
tiếng tung hô reo hò của xóm nhà lá cùng những cái nhìn hưởng ứng ngưởng mộ của phe hơi hơi chính khí và những cái nhìn đầy nghi ngại của các bậc chính nhân quân tử bạch đạo . Long Môn Chủ sau bài phát biểu ứng khẩu thì liên tục đảo mắt nhìn quanh , chắc là chàng chủ tâm tìm người đẹp Mai Viên , đêm nay chàng sẽ thổ lộ tâm tư tình cảm với người đẹp được hay không mặc kệ …. 
Đến đây Bành lão muốn nhân cơ hội quần hùng đang hăng hái , ông thúc đẩy mọi người : 
_ Mong chư vị anh hùng góp sức góp công với chúng tôi , xin mọi người hảy trích huyết phát thệ chung sức thanh trừ ác ma tạo phúc cho võ lâm giang hồ mãi mãi... 


Hoang Đàng Tiên Sinh - Võ Mạnh Hùng K76

Apr 1, 2012

Lời khuyên của cha



Lời khuyên của cha



Mỗi ngày con hãy nhớ lời khen tặng vài ba người. 


Mỗi năm ít nhất một lần con hãy chờ xem mặt trời mọc. 


Nhìn thẳng vào mắt mọi người. 


Nói lời "cảm ơn" càng nhiều càng tốt. 


Hãy sống dưới mức con kiếm được. 


Đối xử với mọi người như con muốn được họ đối xử như thế. 


Kết thêm những người bạn mới nhưng trân trọng những người bạn cũ. 


Hãy giữ kĩ những điều bí mật. 


Dám chịu nhận những lầm lẫn của mình. 


Con hãy can đảm. Nếu tự con không được can đảm lắm thì cũng phải tỏ ra can đảm. Người ta không phân biệt một người can đảm với một người tỏ ra can đảm. 


Con phải dành thì giờ và tiền bạc làm việc thiện trong cộng đồng của con. 


Đừng bao giờ lường gạt một ai 



Học cách lắng nghe. Cơ hội nhiều khi đến gõ cửa nhà con rất khẽ. 


Đừng bao giờ làm cho ai mất hi vọng, nhiều người chỉ sống nhờ hi vọng đấy con ạ. 


Con đừng cầu mong của cải, mà phải cầu mong sự khôn ngoan, hiểu biết và lòng can đảm. 


Đừng bao giờ hành động khi con đang giận dữ. 


Con phải giữ tư thế đàng hoàng. Muốn đến một nơi nào đó phải có mục đích và tự tin rồi hãy đến. 
Đừng bao giờ ngồi lê đôi mách. 


Cẩn thận với những kẻ nào mà họ không còn gì để mất. 


Khi gặp một nhiệm vụ khó khăn, con hãy hành động như không thể nào thất bại. 


Đừng giao du quá rộng. Phải học cách trả lời " không" một cách dứt khoát và lễ phép. 


Đừng bao giờ mong đợi cuộc đời đối xử sòng phẳng với con. 


Đừng đánh giá thấp sức mạnh của sự tha thứ. 


Con hãy mạnh dạn trong cuộc sống. 


Khi nhìn những quãng đời đã qua, hãy tiếc những gì chưa làm được chứ đừng tiếc những điều đã làm xong. 





Đừng quan tâm đến bè nhóm. Những ý tưởng mới mẻ, cao thượng và có tác động đến cuộc sống luôn luôn là những ý tưởng của các cá nhân biết làm việc. 


Những nhạc sĩ trình diễn bên đường thường có những điều đáng trân trọng. Con hãy dừng lại, lắng nghe và nhớ tặng gì đó cho họ. 


Khi gặp vấn đề trầm trọng về sức khỏe, con hãy nhớ nhờ ít nhất ba vị thầy thuốc khác nhau xem xét. 


Hãy chiến đấu chống lại thói vô trật tự. 


Đừng tập thói trì hoãn công việc. 


Làm ngay những việc cần phải làm vào đúng lúc cần phải làm. 


Không ai chờ đến lúc hấp hối để nói " giá như tôi còn thêm được thời gian...". 


Đừng sợ phải nói "tôi không biết". 


Đừng sợ phải nói "xin lỗi, rất tiếc". 


Hãy ghi sẵn những điều gì con muốn được trải qua trong cuộc đời . 


Jackson Brown

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Sài Gòn rong chơi ký

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Sài Gòn rong chơi ký 


 


Trên phương diện học thuật, không ai có thể phủ nhận Vũ Hoàng Chương là một trong những cây đại thụ của thi ca Việt Nam cận đại. Theo nhận định của nhiều nhà phê bình văn học thuộc nhiều thế hệ, so với các nhà thơ đồng thời, thơ Vũ Hoàng Chương có những nét riêng trau chuốt từng câu, từng chữ, giàu nhạc điệu, nhẹ nhàng, sâu lắng, lãng mạn và sang trọng. 
Ông sinh ngày 5/5/1916 tại làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Nam Định (nay thuộc về Hưng Yên). Vũ Hoàng Chương đỗ tú tài Pháp năm 1937. Sau đó, theo học Trường Luật rồi cử nhân toán tại Hà Nội, nhưng tất cả cũng chỉ được một vài năm rồi bỏ, để theo nghề dạy học và làm thơ cho đến cuối đời. Năm 1954, ông di cư vào Nam, tiếp tục dạy văn ở một số trường trung học, và Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vũ Hoàng Chương mất ngày 6/9/1976, khi vừa tròn tuổi 60. 
Tôi là một người may mắn, khi có một thời gian được tiếp xúc và gặp gỡ thi sĩ Vũ Hoàng Chương dường như mỗi ngày. Đó là vào khoảng cuối năm 1973, đầu năm 1974, khi vợ chồng ông đang tá túc tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, trong một căn phòng được ông gọi là “gác mây”, nằm cuối đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận). 
Lúc bấy giờ, tôi đang giữ trang thơ của nhật báo Sóng Thần. Một buổi sáng, vừa bước vào tòa soạn ở số 133 Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), đã thấy nhà văn Chu Tử (chủ bút) đang ngồi uống trà với Ngọc Thứ Lang (người dịch cuốn Bố Già) và nhà thơ Hoàng Trúc Ly. Bỗng dưng có ai đó nhắc đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nói ông đang bệnh nặng. Thế là Ngọc Thứ Lang buột miệng: “Tội nghiệp, Vũ Hoàng Chương nghèo kiết xác, nên thiếu “thóc” (thuốc phiện) là ngã bệnh, nếu được hút đủ đô là khỏe ngay”. 
Điều này có lẽ không sai, bởi hơn ai hết, Ngọc Thứ Lang cũng là một con nghiện rất nặng và thỉnh thoảng vẫn ghé lại “gác mây” thù tạc với Vũ Hoàng Chương. Không hỏi thêm một câu nào, ông Chu Tử quay sang ra lệnh cho tôi, xuống ban Trị sự, lấy tiền mua vài lạng thuốc phiện đem biếu cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nghe thế, tôi rất vui khi biết mình sắp được gặp gỡ nhà thơ lớn mà mình ái mộ từ lâu, nhưng chỉ nghe danh chứ chưa được diện kiến lần nào. Có tiền, tôi nhờ anh Ngọc Thứ Lang đưa qua con hẻm đối diện tòa soạn, nơi có hai động hút dường như bán công khai, mua hai lạng thuốc phiện loại hảo hạng rồi đi ngay. Dọc đường, tôi cứ phân vân không biết phải xưng hô với thi sĩ Vũ Hoàng Chương như thế nào cho phải phép. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ gọi ông bằng thầy và xưng em là ổn nhất. 
Không có gì khó khăn để tôi tìm ra nhà nữ sĩ Mộng Tuyết. Gọi là “gác mây”, cái tên nghe rất thơ mộng, nhưng thật ra, đó là một căn phòng nhỏ, chỉ hơn 20 thước vuông, không có lấy một thứ đồ đạc nào đáng giá. Trên một chiếc đi văng bằng gỗ, được trải mấy tấm chiếu hoa, Vũ Hoàng Chương ngồi tựa lưng vào vách, gầy gò và mệt mỏi. Trên khuôn mặt xanh xao là một cặp kiếng trắng dày cộm. Trước mặt ông là một tờ báo và một chiếc kính lúp, mỗi khi đọc, ông phải soi từng dòng. Ngồi trên chiếc ghế kê sát cửa ra vào là bà Thục Oanh, vợ của ông, một người đàn bà với vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng lại có đời sống rất phi thường. 
Bởi lẽ, bà còn là chị ruột của thi sĩ Đinh Hùng. Suốt đời người đàn bà này là chỗ dựa của hai nhà thơ lớn mà ngoài tánh khí thất thường ra, cả hai còn là những con nghiện á phiện rất nặng từ khi còn rất trẻ, nhưng chẳng bao giờ làm ra được nhiều tiền. Vì thế, mà bà Thục Oanh âm thầm chịu đựng cảnh túng thiếu, cắn răng lo cho hai nhà thơ lớn của Việt Nam mà chẳng hề ta thán. Thấy tôi xuất hiện, bà Thục Oanh đứng dậy chào khách và hỏi tôi muốn tìm ai? Tôi nói ngay: “Ông Chu Tử nhờ em đem biếu cho thầy ít quà”. Tôi trở nên hụt hẫng khi nghe Vũ Hoàng Chương nói, cho dù giọng ông chậm rãi và nhỏ nhẹ: “Chu Tử là ai? Hình như tôi không quen người này, nhưng tại sao lại biếu quà cho tôi, mà quà gì thế?”. Khi nghe tôi nói tới thuốc phiện, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên. 
Tôi ngồi xuống mép đi văng, đặt hai lạng thuốc phiện lên tờ báo cũ mà ông đang đọc dở. Như bị ma lực của nó thu hút, ông cầm lên, mở ra, vẻ thích thú của một tay sành điệu: “Thuốc Thượng Lào, sản phẩm hảo hạng đây”. Thế là câu chuyện giữa tôi và thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở nên thân mật hơn. Ông nói, mỗi ngày ông vẫn có thú vui đọc báo, nhưng chỉ đọc được một tờ, bởi không có đủ báo. Tôi hứa, mỗi ngày sẽ mang đến cho ông đủ các loại nhật báo phát hành trong ngày. Để cho ông yên lòng, tôi nói, mỗi ngày tôi thường đi ngang qua đây, nên rất thuận đường. Nói thế là vì tôi mong được kết thân với ông, chứ chẳng có viếc gì phải cần đến khu vực này cả. Ông nhận lời một cách vui vẻ, và từ đó, chiều nào tôi cũng mang báo đến cho ông, rồi ngồi chuyện trò với nhau đủ mọi thứ chuyện trên đời, rồi thành thân thiết. 
Vài tuần sau, một lần Vũ Hoàng Chương bất chợt nhắc đến sức khỏe nhà văn Chu Tử. Nhân đó, tôi hỏi, dường như ông và Chu Tử cũng quen nhau, nhưng giữa hai người có điều gì đó lấn cấn? Ông thú thật là có quen biết. Nhưng do mâu thuẫn gì đó với Chu Tử, nên thôi. Còn như Chu Tử có xúc phạm Vũ Hoàng Chương hay không, cũng chẳng ai biết hư thực ra sao, bởi đó cũng chỉ là thị phi của người đời. 
Có những buổi chiều khi tôi đến thì bà Thục Oanh vắng nhà. Tôi tự pha trà và ngồi đối ẩm với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi hỏi ông về chuyện tình yêu và những bài thơ đau tình bất hủ của ông. Nét mặt ông trở nên buồn vời vợi, nói như nói với chính mình: “Năm tôi 25 tuổi thì Tố Uyển đi lấy chồng, tôi đã như điên, như cuồng. Người ta biết nhiều đến chuyện tình ly cách và những bài thơ tôi làm cho Tố Uyển giai đoạn này, đặc biệt là hai câu mà nhiều người thuộc: 

Tình ta, ta tiếc cùng ta khóc - 
Tố của Hoàng, nay Tố của ai… 

Ông nói tiếp: Thật ra còn có một người phụ nữ nữa, cũng làm cho tim tôi và thơ tôi rỉ máu, nhưng ít được người ta nhắc tới hơn: 

Kiều Thu hề! Tố em ơi 
Ta đang lữa đốt tơi bời mái tây… 

Tôi hỏi: “Thế còn cô Thục Oanh?”. Ông nói: “Đó là một người bạn đời, người chia ngọt sẻ bùi, tuy không phải là người tình nhưng còn hơn cả người tình”. 
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương thường nói với tôi là ông không có bạn. Nhưng theo tôi nhìn thấy thì ông sống rất tình nghĩa. Có lần ông hỏi tôi có thường gặp Ngọc Thứ Lang không? Tôi nói rất thường gặp. Sáng nào cũng thấy anh ngồi ở quá cà phê trước tòa soạn báo Sóng Thần. Dạo này trông anh rất yếu và hay đau ốm. Thế là chẳng nói, chẳng rằng, ông lấy trên đầu nằm ra một cục thuốc phiện, cắt làm đôi, gói cẩn thận bằng một mảnh giấy kiếng màu cam, rồi trao cho tôi, dặn dò: “Đưa cho Ngọc Thứ Lang và đừng nói gì cả”. 

 


Một buổi chiều khác, tôi gặp Lê Cung Bắc (nay là đạo diễn - NSƯT Lê Cung Bắc) tại tòa soạn, và rủ anh ghé Vũ Hoàng Chương chơi. Lê Cung Bắc nhận lời ngay, bởi anh cũng là người yêu thơ và rất ái mộ thơ Vũ Hoàng Chương. Đó là một buổi gặp gỡ hết sức thú vị. 
Trước khi theo tây học, Vũ Hoàng Chương từng học chữ Nho nhiều năm, thuộc loại uyên bác. Còn Lê Cung Bắc lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng, mấy đời ông cha liên tục đỗ đầu các đại khoa dưới triều Nguyễn. Do đó, anh cũng rất tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh,… từ hồi còn rất trẻ. Đặc biệt, Lê Cung Bắc thuộc làu rất nhiều bài Đường thi, và cả những bài từ, bài phú. Thế là một già, một trẻ, hết đọc rồi bình thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, đến Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu… say sưa cho đến sẩm tối. Vũ Hoàng Chương nói, ông tuy đã già nhưng tâm hồn còn rất trẻ, nên rất thích chuyện trò với những người bạn trẻ có được kiến thức như Bắc. 
Ông dặn tôi, thỉnh thoảng nhớ rủ Lê Cung Bắc đến thăm ông, để chuyện trò cho đỡ buồn. Khi chia tay, ông rời đi văng bước ra cửa tiễn chúng tôi bằng những bước đi không vững, để bày tỏ lòng mến khách. Ông nói: “Lâu lắm không bước ra đường, chẳng biết phố xá dạo này ra sao?”. Lê Cung Bắc trả lời: “Phố xá thì vẫn thế. Có điều, càng ngày các cuộc xuống đường của những lực lựơng tranh đấu càng nhiều hơn. Ngựa sắt, hàng rào kẽm gai và khẩu hiệu, biểu ngữ xuất hiện khắp nơi”. Ông lại hỏi: “Người ta viết gì trên đó?”. Tôi đáp: “Thì đại loại chế độ của Tổng thống Thiệu muôn năm, hoan hô cái này, đả đảo cái kia”. Lập tức thi sĩ Vũ Hoàng Chương ứng khẩu, đọc liền hai câu: 

Thế mà cứ chúc muôn năm mãi 
Nó sống lâu thì nước chết non. 

Ra đầu đường, Lê Cung Bắc nói với tôi, quả thật, nếu cứ nhìn vào cái thân xác gầy còm, yếu ớt đó, không ai ngờ tiềm ẩn trong tim là ngữ khí ngất trời. 
Điều làm tôi cảm động nhất, là vào một buổi chiều cuối năm 1974, khi tôi đến với ông như thường lệ đã thấy trước mặt ông là một tập sách mỏng. Ông cầm lên đưa cho tôi và nói: “Đây là quà của tôi biếu anh, một trong những người rất hiếm hoi mà tôi quý mến”. Tôi lật ra, cứ tưởng như mơ. Đó là một tập thơ của Vũ Hoàng Chương, do chính ông viết bằng đầu tăm, chấm mực tàu viết lên giấy bổi. Tập thơ có cái tựa là Song Kiều, ngoài bìa Vũ Hoàng Chương viết tặng đích danh tôi, có chữ ký và triện son hẳn hoi, nhưng chỉ dày hơn 20 trang, mỗi trang có 4 câu lục bát, vì nét chữ rất to. Dĩ nhiên là tôi vô cùng sung sướng. Cái công mỗi ngày tôi vẫn mang báo đến tặng ông rõ ràng không bỏ. 
Đầu năm 1975, khi chuyển nhà đi nơi khác, vì không ổn định chỗ ở, tôi đã mang tập thơ quý giá, với chỉ một ấn bản duy nhất đó, cùng một ít tư liệu riêng, gởi gắm cho nhà thơ Huy Tưởng trên đường Huỳnh Tịnh Của. Về sau tôi hỏi, thì Huy Tưởng nói đã nhiều lần cố lục tìm trong đống sách vở và đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà anh, nhưng chẳng biết thất lạc ở đâu. Thế là mất! 
Một thời gian sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương rời khỏi “gác mây”, dọn về Vĩnh Hội. Từ đó, cho đến lúc ông qua đời vào năm 1976, vì bộn bề công việc, tôi không đến với ông được nữa. Ngay cả khi ông nhắm mắt, tôi lại ở thật xa thành phố, nên cũng không thể đến thắp cho ông một nén nhang như lòng tôi mong ước. 
Tôi nghĩ, cho dù quá nhiều thăng trầm ở đời này, hạnh phúc thì ít, khổ đau thì nhiều, nhưng có lẽ thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã mỉm cười ra đi bởi ông đã thấm đẫm tinh thần Phật giáo như lời thơ ông: 

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời 
Khách trần chèo một mái thuyền chơi 
Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng 
Cũng chỉ trong cùng biển khổ thôi. 



Đoàn Thạch Hãn 

theo internet